Tương phản là một thuật ngữ có nguồn gốc từ nghệ thuật hội họa. Trong văn học, tương phản là một biện pháp nghệ thuật được dùng để khắc họa hình tượng. Thông thường, hiệu quả của biện pháp này là nhằm biểu hiện những thuộc tính trái ngược nhau của sự vật, hiện tượng.
Phép tương phản xuất hiện ngay từ những câu thơ mở đầu:
“Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời”
Nền của bức tranh xuân là cả một không gian thật bao la, khoáng đạt: dòng sông, bầu trời, cánh đồng. Trong cái mênh mông của đất trời, tâm điểm của bức tranh xuân lại là những sự vật, hình ảnh thật nhỏ bé, khiêm nhường: một bông hoa, một nhành lộc xuân, một con chim.
Lấy cái mênh mông, vô tận của vũ trụ để khắc hoạ cái nhỏ nhoi, đơn chiếc của cảnh vật là cách biểu đạt quen thuộc của Đường thi và thơ ca cổ điển Việt Nam.
Trong “ Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng “, Lí Bạch (nhà thơ cổ điển Trung Quốc) đã từng tạo ra sự đối lập giữa không gian và sự vật như vậy:
“ Cánh buồm đã khuất bầu không
Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời”
Sự đối lập này dễ gợi cảm giác trống trải, cô đơn trong lòng người. Sau này, Huy Cận- một nhà Thơ mới, ở bài thơ Tràng giang, cũng đã tô đậm sự cô đơn, lạc lõng của con người trước cuộc đời bằng cách tạo ra sự đối lập giữa không gian và sự vật:
“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng”
Trong bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ “, nhà thơ Thanh Hải cũng đã vận dụng một cách hiệu quả phép tương phản trong việc tạo dựng không gian.
Không gian xuân được mở rộng đến vô tận qua hình ảnh: “Nước non ngàn dặm”. Thực ra, ở câu thơ này, Thanh Hải đã được gợi tứ từ một khúc ca của quê nhà:
“Nước non ngàn dặm
Ra đi
Cái tình chi... “
(Câu ca Nam Bình)
Lấy lại cách biểu đạt này, hình ảnh đất nước trong “Mùa xuân nho nhỏ “ đâu chỉ tươi đẹp, trẻ trung mà còn lớn lao, vững chãi, trường tồn.
Cùng với không gian vũ trụ là thời gian vĩnh hằng, thời gian được đo đếm bằng lịch sử đất nước: “bốn ngàn năm “. Kiểu thời gian mang tính biểu trưng này đã làm cho không gian được mở rộng đến vô cùng, biểu tượng về đất nước trở nên lớn lao, mang tầm vóc lịch sử.
Nếu như không gian lớn được xác lập bằng những từ định tính như: trải dài, ngàn dặm mà đi liền với nó là những danh từ gợi ra tính chất mênh mông, vô tận như: nước non, bầu trời, dòng sông , cánh đồng …, thì không gian xuân “ nho nhỏ “ đựơc diễn tả bằng những hình ảnh xác lập bởi số từ chỉ lượng“ một “ (Một bông hoa, một nhành hoa, một nốt trầm ). Một không chỉ đem đến sự biểu cảm mà trước hết nó là một số từ chỉ lượng trong thang bậc lượng từ có nghĩa là ít nhất. Số từ này lại được đặt trong tương quan với ngàn dặm, bốn ngàn năm thì tính tương phản càng rõ nét.
Tuy nhiên, ở bài thơ này, sự đối lập chỉ là một thủ pháp nghệ thuật, nó không đem đến hệ quả thông thường về mặt ý nghĩa. Nghĩa là, sự đối lập ấy không tạo ra nghịch đối giữa không gian và sự vật. Trái lại, chính những sự vật này lại là tâm điểm của bức tranh xuân. Dù nhỏ bé, song những sự vật trong bức tranh lại luôn ở trạng thái vận động, sinh sôi nảy nở, phát lộ những gì tinh túy nhất. Đó chính là thần sắc của bức tranh xuân. Bầu trời sẽ không còn là bầu trời xuân nếu thiếu đi tiếng chim chiền chiện hót vang trời. Dòng sông kia liệu có còn tươi tắn sắc xuân khi không có sắc tím tươi trẻ của bông hoa lục bình.Và cả bản hợp âm kia có còn lay động lòng người khi thiếu đi “Một nốt trầm xao xuyến “.
Tương phản mà không đối nghịch, vừa xác lập rõ nét lại vừa đồng điệu, hài hoà, đấy là đặc điểm của hệ thống hình ảnh trong bức tranh xuân của bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ “
Xét cho cùng, không gian trong tác phẩm văn học gắn liền với quan niệm thẩm mĩ, thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn. Bởi vậy, có thể khẳng định rằng những cảm nhận về mùa xuân của đất trời hay xuân đối với cuộc đời của mỗi con người trong bài thơ đều bắt nguồn từ niềm yêu đời, sự trân trọng, nâng niu quý giá ý nghĩa cuộc đời của nhà thơ. Chính vì lẽ đó, hai không gian xuân trong bài thơ không tách biệt mà đan cài, giao hoà và cuối cùng là sự hoà nhập cao độ:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một nhành hoa
Một nốt trầm xao xuyến
Tan biến trong hòa ca”
Nhà thơ đã mở rộng lòng mình đón nhận, nâng niu vẻ đẹp của cuộc sống, đồng thời khao khát được cống hiến cho đất nước. Sự tự nguyện dâng hiến được thể hiện qua một loạt động từ trong bài thơ: dâng, nhập, làm, tan, biến, hứng … Chính những động từ này đã tạo nên sự gắn kết không gian nho nhỏ và không gian lớn, không gian chung và không gian riêng, tạo ra sự tương quan, hoà hợp giữa đất trời và lòng người khi xuân về.
Sự tương giao của không gian xuân trong bài thơ còn được biểu hiện qua ý nghĩa của các hình ảnh thơ. Có thể dễ dàng nhận biết hai không gian xuân trong bài thơ, đó là xuân của đất trời và xuân của lòng người. Tuy nhiên, ở từng khổ thơ, câu thơ, hình ảnh thơ, việc phân định như thế quả là cứng nhắc. Bông hoa, con chim, nhành lộc xuân… và cả mùa xuân nho nhỏ đâu phải chỉ là sự hiện hữu của vẻ đẹp tự nhiên mà còn là những hình ảnh mang ý nghĩa biểu trưng. Đó là vẻ đẹp của cuộc đời, là ý nghĩa của cuộc sống mà mỗi chúng ta cần trân trọng.
Mùa xuân nho nhỏ được viết vào tháng 11.1980, khoảng một tháng trước khi nhà thơ qua đời. Những vần thơ cuối cùng tràn đầy nhiệt huyết lại là những vần thơ được tác giả viết trên giường bệnh.
Nhà thơ Thanh Hải không còn nữa nhưng bài thơ xuân mà ông để lại thật ý nghĩa. Khát khao làm một “ Mùa xuân nho nhỏ “ góp vào bức tranh xuân của đất nước không chỉ còn là ước muốn chân thành, tha thiết của nhà thơ mà trở thành ước nguyện của tất cả những ai đã một lần đọc bài thơ này.
Nghe bài hát "Mùa xuân nho nhỏ"
| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|
















Trung tâm Dạy nghề tổ chức lễ khai giảng lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn 2010