Từ đồng nghĩa là những phương tiện quí báu của nghệ thuật văn học, nhất là nghệ thuật thơ ca.Ý nghĩa của các từ đồng nghĩa trong lời nói và trong sáng tạo nghệ thuật rất lớn. E.I.Efimốp khẳng định: “Bột từ mà mỗi nhà văn trải qua - trước hết đó là làm việc với các phương tiện đồng nghĩa của ngôn ngữ”. Qua bài viết này, chúng tôi muốn khẳng định: từ đồng nghĩa trong thơ được bộc lộ ở nhiều sắc thái khác nhau, thể hiện những cung bậc tình cảm khác nhau. Để bài viết có tính thực tiễn, chúng tôi xin giới thiệu những biểu hiện cụ thể của từ đồng nghĩa trong một số văn bản thơ được khảo sát từ chương trình THCS.
Khi nói đến từ đồng nghĩa, các nhà nghiên cứu thường nhất trí với quan niệm: Từ đồng nghĩa là những từ tương đồng với nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh và phân biệt với nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách nào đó, hoặc đồng thời cả hai.
Trong công trình “Từ đồng nghĩa tiếng Việt”, Nguyễn Đức Tồn lí giải từ đồng nghĩa có hai loại: Các từ cùng nghĩa là những từ có ý nghĩa sự vật-khái niệm đồng nhất, có thể xuất hiện được trong kết cấu đồng nhất thuận nghịch “A là B” “B là A”, còn sắc thái phong cách-biểu cảm và phạm vi sử dụng thì có thể khác nhau. Nếu các từ cùng nghĩa không có sắc thái phong cách-biểu cảm và phạm vi sử dụng khác nhau thì đó là những từ đồng nghĩa tuyệt đối. Nếu các từ cùng nghĩa có các sắc thái phong cách-biểu cảm và phạm vi sử dụng khác nhau thì đó là những từ đồng nghĩa phong cách. Các từ gần nghĩa là những từ có thể xuất hiện được trong kết cấu đồng nhất thuận nghịch “A là B” “B là A”, nhưng phải có sự điều chỉnh (thêm bớt nét nghĩa nào đó vào một trong hai từ ở mỗi vế). Nếu chúng có sắc thái phong cách-biểu cảm và phạm vi sử dụng như nhau thì đó là những từ đồng nghĩa ý niệm. Nếu chúng có các sắc thái phong cách-biểu cảm và phạm vi sử dụng khác nhau thì đó là những từ đồng nghĩa ý niệm phong cách.
Khi phân loại từ đồng nghĩa các nhà nghiên cứu đã đưa ra những tiêu chí khác nhau và kết quả cũng có sự khác biệt ví như: Phân loại từ đồng nghĩa dựa vào ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm, ý nghĩa biểu thái. Hoặc căn cứ vào mức độ giống nhau về nghĩa, các dãy đồng nghĩa chia thành hai loại: Đồng nghĩa hoàn toàn, đồng nghĩa khác nhau về sắc thái. Đồng nghĩa khác nhau sắc thái được chia thành: Đồng nghĩa thuần Việt-Hán Việt; đồng nghĩa thuần Việt-Ấn Âu; đồng nghĩa toàn dân và địa phương. Hoặc dựa vào bản chất đồng nghĩa: Đồng nghĩa cố định (đồng nghĩa ngôn ngữ), đồng nghĩa lâm thời (đồng nghĩa lời nói)
Theo Đào Thản, trong “Truyện Kiều” Nguyễn Du đã phát triển và sáng tạo rất nhiều từ biểu thị cùng một khái niệm (từ đồng nghĩa) trong những ngữ cảnh khác nhau để bộc lộ thái độ, tình cảm tinh tế bậc nhất. Nguyễn Du dùng tên gọi nước mắt trong những câu thơ mang sắc thái tình cảm trung hoà:
Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa.
Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao.
Khi muốn tỏ thái độ trang trọng, thi hào lại sử dụng lệ:
Đinh ninh mài lệ chép thư
Dầu trong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn.
Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng.
Nước mắt của Thúc Sinh khi nghe lại tiếng đàn của Kiều là nước mắt nhớ tiếc người yêu cũ nên thi nhân lại gọi nó là giọt tương:
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương
Nước mắt thương thân tủi phận của Kiều lại được Nguyễn Du gọi là giọt tủi :
“Áo đầm giọt tủi, tóc xe mối sầu”.
Nước mắt của mẹ con Thuý Kiều khi phải biệt li nhau, xót xa đau đớn đến chảy máu đứt ruột là giọt hồng:
“Nhìn càng lã chã giọt hồng”.
Với Nguyễn Du, nước mắt quý giá của tình người là giọt châu, giọt ngọc:
Giọt châu lai láng khôn cầm
Đầm đìa giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai.
Ví dụ trên đã gợi cảm hứng để chúng tôi đã khảo sát các văn bản thơ trong chương trình THCS và kết quả là các từ đồng nghĩa xuất hiện với tần số cao và có nhiều biểu hiện sinh động, phong phú. Những biểu hiện của từ đồng nghĩa trong một văn bản thơ thể hiện trên hai phương diện: âm thanh và ý nghĩa.
Các từ đồng nghĩa có chung nghĩa biểu niệm có thể sử dụng từ này thay cho từ kia nhằm đạt mục đích đa dạng hoá về ngữ âm lời nói. Bài thơ “Đêm nay Bác không ngủ” có nhiều câu:
Nhưng bụng vẫn bồn chồn...
Lòng anh cứ bề bộn...
Bác ngủ không an lòng...
Càng thương càng nóng ruột...
Lòng vui sướng mênh mông...
Các từ “bụng”, “lòng”, “ruột” trong bài thơ có chung biểu tượng chỉ ý nghĩ, tình cảm, ý chí, tinh thần của con người. Những câu thơ trên đã góp phần thể hiện những tình cảm chân thành, lo lắng, cảm thông của Bác Hồ và anh chiến sĩ trong đêm không ngủ. Sự đa dạng hoá về mặt ngữ âm tạo nên tính sinh động, nhịp nhàng trong lời thơ, khả năng kết hợp sáng tạo ngôn từ của tác giả đã thể hiện những cung bậc tình cảm trong sáng của nhân vật trữ tình.
Khi sử dụng những từ đồng nghĩa trong một câu, đoạn hoặc bài thơ, tác giả muốn tạo nên sự đa dạng về nghĩa, biểu thị cách nhìn nhận và xúc cảm của mình đối tượng trữ tình một cách cô đọng, sâu lắng nhất.
Trong thơ khi sử dụng từ đồng nghĩa này bên cạnh từ đồng nghĩa khác, nhà thơ có dụng ý hiện thực hoá nét nghĩa khác biệt của mỗi từ đồng nghĩa, gợi được chiều sâu nghệ thuật của ngôn ngữ thơ. Nguyễn Du đã miêu tả vẻ đẹp của Kiều
Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Hai chữ “hờn”, “ghen” thường kết hợp kèm với nhau nhưng nhà thơ đã tách riêng trong một câu thơ để phân biệt sắc thái riêng của mỗi từ. “Hờn”và “ghen” đều bộc lộ không bằng lòng, khó chịu đối với một đối tượng hơn mình...nhưng “ghen” bộc lộ ra ngoài còn “hờn” không nói ra mà chỉ tỏ ý bằng thái độ nào đó. Chính sự im lặng đó mới đáng sợ và có nhà phê bình cho rằng chính sự hờn dỗi của tạo hoá mới gây cho Kiều bao nhiêu nỗi đoạn trường về sau.
Trong bài thơ “Ông đồ”, Vũ Đình Liên đã nói lên được nỗi niềm hoài cổ sâu sắc của mình thông qua sắc thái nghĩa biểu cảm giữa các từ đồng nghĩa
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già...
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Trong đoạn thơ trên với ba cụm từ “ông đồ già, ông đồ xưa, người muôn năm cũ” có nét nghĩa chung chỉ nghệ nhân viết chữ nhưng với sắc thái biểu cảm riêng: “già” chỉ người nhiều tuổi; “xưa” chỉ ý nghĩa lâu lắm rồi về mặt thời gian; “cũ” thuộc về thời đã qua nay không còn nữa...
Nét nghĩa khu biệt từ đồng nghĩa này với từ đồng nghĩa khác cho phép sử dụng chúng cạnh nhau để làm phương tiện diễn đạt nội dung tư tưởng chính xác hơn. Trường hợp này thường xảy ra với các từ gần nghĩa, các từ đồng nghĩa ý niệm và đồng nghĩa ý niệm phong cách.
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học
Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh
(Bếp lửa-Bằng Việt)
Bài thơ “Hai chữ nước nhà” của Trần Tuấn Khải xuất hiện một loạt từ đồng nghĩa, gần nghĩa bộc lộ nỗi đau của một tâm hồn thi sĩ, một người dân yêu nước trước cảnh nước mất nhà tan.
Chốn ải Bắc mây sầu ảm đạm
Cõi trời Nam gió thảm đìu hiu
Trông cơ đồ nhường xé tâm can
Khói Nùng Lĩnh như xây khối uất
Sông Hồng Giang nhường vật cơn sầu
Các từ đồng nghĩa được sử dụng liền nhau trong một câu, đoạn là một trong những biện pháp tu từ ngữ nghĩa được gọi là biện pháp đồng nghĩa kép: sử dụng hai hay nhiều từ đồng nghĩa để diễn đạt một ý nghĩa giống nhau nào đó, nhằm nêu đặc trưng của đối tượng một cách đầy đủ nhất vì mỗi từ đồng nghĩa chỉ diễn đạt một sắc thái bổ sung nào đó.
Xách búa đánh tan năm bảy đống
Ra tay đập bể mấy trăm hòn
(Đập đá ở Côn Lôn -Phan Châu Trinh)
Có khi từ đồng nghĩa được sử dụng trong biện pháp tu từ thế đồng nghĩa, tức là dùng từ ngữ đồng nghĩa để gọi tên sự vật, hiện tượng đã được nói đến nhằm bổ sung cho sự vật hiện tượng đó những đặc trưng thuộc về một khía cạnh mới nào đó. Đó có thể là kiểu thế đồng nghĩa từ điển: cả hai yếu tố liên kết là những từ đồng nghĩa nhằm cung cấp thêm thông tin phụ về sự đánh giá, ngoài chức năng chủ yếu là liên kết.
Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh
Hỏi tên, rằng :”Mã Giám Sinh”
Hỏi quê, rằng: huyện Lâm Thanh cũng gần...
(Mã Giám Sinh mua Kiều)
Hiện tượng đồng nghĩa lâm thời đã xuất hiện trong một số bài thơ và tạo nên giá trị thẩm mĩ sâu sắc cho tác phẩm. Chúng bộc lộ cảm xúc, tâm trạng, tính cách, sự đánh giá của người nói nhưng đồng thời cũng “khêu gợi” tình cảm, cảm xúc nơi người đọc, buộc người đọc phải suy nghĩ về những điều người viết không trực tiếp nói ra:
Đêm nay Bác không ngủ
Bác ơi! Bác chưa ngủ?
Bác vẫn ngồi đinh ninh
Bác thức thì mặc Bác
Đêm nay Bác ngồi đó
(Đêm nay Bác không ngủ)
Hình ảnh chú bé liên lạc ngây thơ, nhí nhảnh, vô tư, nhưng gan dạ, dũng cảm đã xuất hiện trong tác phẩm với nhiều tên gọi khác nhau, gửi gắm những tình cảm yêu mến, tôn trọng, khâm phục... của tác giả, của người đọc.
Chú bé loắt choắt
Cháu cười híp mí
Lượm ơi!...
Chú đồng chí nhỏ
(Lượm-Tố Hữu)
Trong bài thơ “Đồng chí” với một loạt từ gần nghĩa, đồng nghĩa xuất hiện đã thể hiện tình cảm gắn bó gần gũi của những người lính về quê hương, đất nước, về sự vất vả gian lao và về một mục đích chung cao cả...
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính...
(Đồng chí-Chính Hữu)
Các từ đồng nghĩa mang sắc thái cổ được sử dụng trong các tác phẩm nghệ thuật sẽ tái tạo lại bản sắc thời đại, bản sắc địa phương, khu biệt lời của nhân vật với lời của tác giả, là phương tiện khắc hoạ hình tượng. Những từ đồng nghĩa mang bản sắc Nam Bộ đã thể hiện tính chân thật của tác phẩm và làm nổi bật ngôn ngữ, hành động, tính cách của con người Nam Bộ:
Minh mông biển rộng đùng đùng sóng xao
(Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua)
Nghinh ngang sao mọc mịt mờ sương bay
Ông hơ bụng dạ mụ hơ mặt mày
(Lục Vân Tiên gặp nạn)
Sự khác biệt của từ đồng nghĩa ngoài việc phụ thuộc vào ngữ cảnh còn được bộc lộ ở cấu tạo và khả năng kết hợp của chúng với các từ khác. Các từ trung tính về phong cách thường có khả năng tham gia kết hợp với một phạm vi các từ khá lớn. Các từ đồng nghĩa với chúng được cụ thể hoá về sắc thái biểu cảm, kết hợp hạn chế trong một phạm vi nhất định.
Khi đưa từ đồng nghĩa vào một câu thơ, đoạn thơ hay bài thơ, tác giả ý thức được nét nghĩa dị biệt giữa các từ đồng nghĩa rất tinh tế, giàu sắc thái biểu cảm và đã lựa chọn sử dụng trong một số trường hợp sau đây:
Dị biệt về một số sắc thái ý nghĩa bổ sung như: mức độ trừu tượng, khái quát của khái niệm; hoặc phương thức, công cụ, chủ thể tiến hành, tiếp nhận hành động; hoặc thái độ của người nói đối với người nghe; hoặc sự đánh giá của người nói
Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê
Xét hai từ “thuê” và “mượn”... Nét chung của hai từ này là lấy vật gì đó của người khác để dùng một thời gian rồi sẽ trả lại với sự đồng ý của họ. Nét dị biệt của “thuê” là mất tiền trả cho người ta, so với “mượn” là không cần trả tiền trong thời gian sử dụng.
Dị biệt về phạm vi sử dụng hoặc sắc thái phong cách, thái độ bình giá của người nói.
Bao nhiêu người thuê viết
Hoa tay thảo những nét
(Ông đồ - Vũ Đình Liên)
“Viết” mang sắc thái trung hoà, “thảo” mang sắc thái trân trọng tài hoa, vẻ đẹp của từng nét tranh chữ. ‘Viết” là hành động chỉ chung cho mọi người, còn “thảo” chỉ dành riêng cho các nghệ nhân như ông đồ.
Dị biệt về khả năng kết hợp cú pháp và kể cả kết hợp từ vựng. Hình ảnh mà chúng tôi gặp nhiều trong các tác phẩm đã được khảo sát là trăng và có rất nhiều kết hợp với từ “trăng” như: Vầng trăng, Bóng trăng, Ánh trăng, Nhịp trăng, Khuôn trăng, Tấm trăng, Trăng vàng, Trăng treo... còn “nguyệt” hoặc “chị Hằng” lại có sự kết hợp hạn chế trong một số trường hợp cụ thể.
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
(Muốn làm thằng Cuội-Tản Đà)
Vầng trăng đi qua ngõ...
Ánh trăng im phăng phắc
(Ánh trăng-Nguyễn Duy)
Vắng người có bóng trăng thanh
Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng
(Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua)
Đầu súng trăng treo
(Đồng chí-Chính Hữu)
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung
(Kiều ở lầu Ngưng Bích)
Tạo lập văn bản sử dụng hai thao tác kết hợp và lựa chọn. Quan hệ kết hợp đòi hỏi sự chính xác, logic; quan hệ lựa chọn thể hiện nội dung liên cá nhân. Nội dung liên cá nhân bộc lộ qua việc lựa chọn từ đồng nghĩa để diễn đạt các cung bậc tình cảm, thái độ của người viết. Trong các văn bản mà chúng tôi khảo sát nhiều từ đồng nghĩa cùng hiện diện trong một câu, một đoạn hoặc bài và chúng làm giàu thêm về giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của văn bản. Từ đồng nghĩa không chỉ xuất hiện trong thơ mà còn xuất hiện trong văn xuôi và trong giao tiếp xã hội với muôn ngàn sắc thái biểu cảm khác nhau. Hi vọng chúng ta sẽ có dịp tìm hiểu về vấn đề này.
Tài liệu tham khảo
1, Tuyển tập Đỗ Hữu Châu - Tập 1 - Từ vựng-Ngữ nghĩa – NXBGD 2005
2, Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt - Đỗ Hữu Châu – NXBĐHSP 2004
3 ,Từ vựng học tiếng Việt - Nguyễn Thiện Giáp – NXBGD 1998
4, Ngữ nghĩa học dẫn luận của John Lyons NXBGD 2006 (Nguyễn Văn Hiệp dịch)
5, Thuộc nghĩa, trái nghĩa và đồng nghĩa - Nguyễn Thượng Hùng - NN&ĐS số 8/2005.
6,Từ đồng nghĩa tiếng Việt - Nguyễn Đức Tồn – NXBKHXH -2006
| < Lùi | Tiếp theo > |
|---|
















Trung tâm Dạy nghề tổ chức lễ khai giảng lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn 2010