Trang nhất Giới thiệu Phòng ban Khoa - Bộ môn Trung tâm Tổ chức đoàn thể Sinh viên Liên hệ

Khỏa trần Trường Sơn

Thứ tư, 15 Tháng 4 2009 03:00 Phạm Văn Chữ
Email In

KHỎA TRẦN TRƯỜNG SƠN

Nguyễn Đình Bảng

 

Im vắng trưa rừng

Trong veo suối

Cả tiểu đội con gái

Khoả trần Trường Sơn.


Mười hai tòa thiên nhiên lồng lộng thiên nhiên

Nguyên trang nguyên hình nõn nuột

Phút ngắm mình khỏa trần

Bất chợt

Câu hát ngân nga.

Loảng xoảng hoàng hôn ngã bẩy ngã ba

Đêm nhấp nhoáng tiếng còi xe rất vội

Đêm đi qua, lòng em ở lại

Mười hai khoảnh khắc riêng tư ôm mặt gối

úp mặt giữa ngày.


Khỏa trần Trường Sơn để tự lấp đầy

Khoảng im vắng trống trơn đoạn đường con gái

Nỗi khao khát nén kìm

Hoá dại

Tiếng cười rú từng cơn

Một đời xuân độc thoại

Vật vã cùng con đường

Sốt rừng đeo đẳng mãi

Thời gian rơi rụng dần

Cả tiểu đội con gái

Trường Sơn khỏa trần.

Kỉ niệm một chuyến đi thời chiến tranh.

( Cơn mưa khỏa trần- NXB Văn học- 1994)

Lời bình:

Đến với bài thơ, ta cần lưu ý tới câu phụ đề của tác giả:“Kỉ niệm một chuyến đi thời chiến tranh”. Được biết, năm 1967, ở tuổi 25, Nguyễn Đình Bảng đã cùng với một số anh chị em văn nghệ sĩ xung kích vào Trường Sơn biểu diễn phục vụ bộ đội, TNXP đang ngày đêm chiến đấu. Thực tế cuộc chiến đã để lại trong ông những kỉ niệm đẹp, đau thương, ám ảnh khôn nguôi, nhất là sự hi sinh của nhiều tập thể nữ TNXP trên các tuyến đường. Nhưng phải đến thời đổi mới, ông mới có điều kiện biến niềm hoài cảm đó thành cảm xúc để viết bài thơ này, mong trang trải phần nào món nợ lòng đối với những người em gái một thuở cùngchung chiến hào.

Từ một tứ thơ mới mẻ, táo bạo, tác giả thể hiện một cách nhìn mới đối với nỗi buồn về bi kịch chiến tranh. Trong hai khổ thơ đầu, bằng tư duy thị giác của điện ảnh, người đọc được chiêm ngưỡng bức tranh “ khoả trần” vừa thực vừa ảo mười hai cô gái tự phô bày cái đẹp của hình hài, thần thái nguyên sơ mà Tạo Hoá ban tặng. Trong khoảng lặng của chiến tranh, trưa rừng Trường Sơn “ im vắng”, giữa dòng suối hiền hoà“ trong veo”, những cô gái trinh nguyên “ nõn nuột” đẹp như những nàng tiên giáng thế. Phải có bản lĩnh mới viết được những câu thơ tuyệt bút ngợi ca cái đẹp thân xác trần tục được thanh khiết hoá, giàu tính thẩm mĩ đến thế!

Những người con gái ấy là trân bảo của thiên nhiên tạo hoá, của cuộc đời này. Lẽ ra, họ phải được hưởng hạnh phúc trần thế viên mãn của tình yêu lứa đôi, của mái ấm gia đình- chồng con, của cuộc sống yên bình như chúng ta hôm nay. Nhưng, chiến tranh xâm lược chính là tội đồ huỷ diệt cái đẹp. Toàn bài thơ, kể cả nhan đề, từ “khoả trần” được nhắc tới năm lần. Tất cả đều lộ ra, không che dấu, kể cả mười hai nỗi “riêng tư ôm mặt gối úp mặt giữa ngày” cùng những nỗi khát khao đến khắc khoải bị “nén kìm hoá dại” giữa “im vắng trống trơn đoạn đường con gái”, giữa muộn mằn đau đáu nơi chiến trường ác liệt. Biện pháp tu từ đảo ngữ và điệp ngữ, tiệm tiến và tiệm thoái song hành từ đầu đến cuối. Chiến tranh càng dai dẳng thì sự phôi pha, tàn tạ của cái đẹp cũng ngày càng tăng. Những căng thẳng của nỗi cô đơn giới tính, những chấn động tâm lí triền miên đã làm cho các cô gái từ chỗ ban đầu luôn ý thức “ngắm mình” để cất lên những “Câu hát ngân nga”yêu đời thì về sau, chỉ có thể cất lên những “Tiếng cười rú từng cơn” man dại…Để trụ vững mà“Vật vã cùng con đường”, họ phải chịu những cơn “Sốt rừng đeo đẳng mãi”. Cái trẻ trung xinh đẹp, cái sức sống thanh xuân “Gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu” đâu có còn nữa. Bệnh nội thương dày vò, bệnh ngoại tà hành hạ…Mãi rồi:“Thời gian rơi rụng dần/ Cả tiểu đội con gái/ Trường Sơn khoả trần”! Thiết nghĩ, những câu thơ này cuối bài phải đọc với nhịp điệu chậm, buồn lắng lại mới thấm hết vào lòng nỗi đau đớn, xót xa, thương cảm…

Bài thơ đã để lại trong ta một nỗi buồn đẹp, ám ảnh và không bi luỵ, một sự rung cảm trước nỗi đau có thật của một thời chiến tranh đã lùi về dĩ vãng. Nó hướng chúng ta tới sự xót thương, cảm phục và biết ơn những người con gái TNXP thời chống Mĩ đã vì nghĩa nước mà xông pha chiến trường, hi sinh sự sống, hi sinh tuổi xuân và sắc đẹp của mình trong những cánh rừng già trên con đường Trường Sơn huyền thoại.

Xin được nói thêm: về sau, nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng đã phổ nhạc bài thơ để có thêm ca khúc cùng tên. Ca khúc đã đoạt giải nhất Giải thưởng Hội Nhạc sĩ Việt Nam năm 1994. Đồng thời, năm 2007, tác giả được tặng giải thưởng Nhà nước về VHNT bởi chùm năm tác phẩm: một tác phẩm khí nhạc, ca khúc “Thời hoa đỏ”, “Ngôi sao biển”, “Du thuyền trên sông Lam” và ca khúc này.

< Lùi   Tiếp theo >
 
  • Tin tức - Sự kiện
  • Đào tạo
  • Tuyển sinh
  • Nghiên cứu khoa học
  • Hợp tác
  • Nhìn ra thế giới

Dịch vụ công tác

  • Thông báo
  • Lịch công tác tuần
  • Thời khóa biểu
  • Tài liệu tham khảo
  • Văn hoá - Xã hội
    • Văn hóa
    • Âm nhạc
    • Hội họa
    • Thể thao
  • Diễn đàn

Thư điện tử

  • webmail
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay705
mod_vvisit_counterHôm qua2672
mod_vvisit_counterTuần này18813
mod_vvisit_counterTháng này705
mod_vvisit_counterTổng670952

Tin mới



Lịch công tác tuần: Từ ngày 02 tháng 08 đến ngày 06 tháng 08 năm 2010

Trung tâm Dạy nghề tổ chức lễ khai giảng lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn 2010

Có thể bạn chưa biết?

Chiếc thẻ bài

Lịch công tác tuần: Từ ngày 26 tháng 07 đến ngày 30 tháng 07 năm 2010

Kết quả học tập

Bảng quảng cáo

Âm nhạc

Tin đọc nhiều nhất

  • Các đề tài NCKH, giáo trình, sáng kiến kinh nghiệm năm học 2007-2008
  • TRONG LÒNG MẸ – BÀI CA TÌNH MẪU TỬ
  • Phương pháp dạy học trong trường sư phạm
  • Giới thiệu chung về Trường Đại học Hà Tĩnh
  • Đôi điều cảm nhận về bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa”
Copyright © 2010 Ha Tinh University | Số 447, đường 26/3, phường Đại Nài, TP Hà Tĩnh, Việt Nam